◎ “Phật” là dịch từ tiếng Ấn Độ, dịch nghĩa là “bậc giác ngộ”, là danh xưng chung để chỉ người đã giác ngộ viên mãn chân tướng của vũ trụ vạn hữu. Tất cả chúng sinh, chỉ cần triệt để buông xuống hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khôi phục trí tuệ và đức tướng viên mãn vốn có của tự tính, đều có thể gọi là “Phật”. Vì vậy, “Phật” là một danh xưng chung, cũng có thể nói là tên gọi của “học vị” đạt được khi việc tu học Phật pháp đã viên mãn — tương tự như học vị “tiến sĩ” của thế gian.
Mỗi một đức Phật đều có phạm vi dạy học và thời kỳ giáo hóa riêng. Ở nơi nào và thời nào mà chúng sinh có duyên với vị Phật này, thì Phật sẽ thị hiện ứng hóa đến nơi đó để giáo hóa chúng sinh. Điều này giống như hiệu trưởng của trường học, chủ trì toàn bộ công tác dạy học của trường, và mỗi trường chỉ có một vị hiệu trưởng. Cũng vậy, mỗi thế giới chỉ có một vị Phật thị hiện xuất gia và thành đạo, nhằm giúp chúng sinh ở thời điểm và nơi chốn đó chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh.
Phạm vi giáo hóa của một đức Phật ít nhất là một “tam thiên đại thiên thế giới”. Có những vị Phật có phạm vi giáo hóa rộng hơn, có thể bao trùm nhiều tam thiên đại thiên thế giới. Điều này tùy thuộc vào bản nguyện mà mỗi vị đã phát khi tu hành ở nhân địa không giống nhau.
Chư Phật Bồ Tát không có danh hiệu cố định. Danh hiệu của các Ngài được đặt tùy theo hoàn cảnh khu vực giáo hóa và nhu cầu của chúng sinh trong thời kỳ đó. Khi Phật xuất hiện vào thời điểm và nơi chốn nào, Ngài sẽ dùng danh hiệu ấy làm tôn chỉ giáo hóa, để giác ngộ chúng sanh.
Khi pháp duyên giữa Phật và chúng sanh nơi đó thời kỳ đó đã hết, nghĩa là công việc dạy học trong kỳ này của Ngài đã viên mãn, Ngài sẽ thị hiện Niết-bàn, rồi tiếp tục ứng hóa đến những thế giới khác có duyên, lại thị hiện thành Phật, tiếp tục công việc dạy học.
◎ A Di Đà Phật là danh hiệu của Đấng Đạo sư cõi Tây Phương Cực Lạc.
“A” nghĩa là “vô”, “Di Đà” nghĩa là “lượng”, “Phật” là “giác”. “A Di Đà Phật” có nghĩa là “vô lượng giác”, đồng thời cũng biểu thị trí tuệ, công đức, tướng hảo, thần thông, thọ mạng… thảy đều là vô lượng.
Khi tu hành, A Di Đà Phật dùng thân phận quốc vương để xuất gia theo Đức “Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai”, pháp danh là Tỳ-kheo Pháp Tạng. Ngài phát 48 đại nguyện để thành tựu thế giới Cực Lạc. Sau đó chủ trì công việc dạy học ở Thế giới Cực Lạc; giúp cho chúng sinh mười phương thế giới vãng sinh về Tây Phương được viên mãn thành Phật, đạt được “vô lượng quang” (không gian) và “vô lượng thọ” (thời gian), Mọi sự vật trong không gian và thời gian vô lượng ấy đều được thấu triệt thông đạt, viên thành Phật đạo; rồi lại ứng hóa đến các thế giới khác có duyên, giáo hóa chúng sinh.
Thế giới Cực Lạc giống như một đại học chuyên tu đặc thù. Điều kiện nhập học là: “thân tâm thanh tịnh, nhất tâm niệm Phật”. Đến được nơi đó, có môi trường học tập tốt đẹp nhất cùng thầy hiền bạn tốt, có thể giúp mỗi người chúng ta trong một đời đều có thể viên mãn thành Phật.
◎ Thích-ca Mâu-ni Phật là danh hiệu của Đấng Đạo sư cõi Ta-bà.
Chúng sanh ở thế giới này, là chúng sinh đặc biệt thiếu lòng yêu thương, nên Phật hiệu gọi là “Thích-ca”. “Thích-ca nghĩa là năng nhân, từ bi”. ý là dạy ta phải nhân từ với chúng sanh; “Mâu-ni nghĩa là tịch mặc, thanh tịnh”, dạy ta phải tu tập tâm tịch mặc thanh tịnh.
Cách đây ba ngàn năm, Đức Thế Tôn giáng sinh tại một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ (thuộc khu vực Nepal ngày nay). Năm mười chín tuổi, Ngài xuất gia với thân phận thái tử. Năm ba mươi tuổi, Ngài thành đạo (minh tâm kiến tính), rồi suốt đời chuyên tâm thực hiện sự nghiệp giáo dục đa nguyên văn hoá, hướng đến chí thiện viên mãn. Ngài giảng kinh thuyết pháp trong 49 năm, mở lớp giảng khoảng hơn 300 hội. Đến 80 tuổi, Ngài thị hiện nhập Niết-bàn.
◎ Sự khác nhau về thời gian giáo hóa của A Di Đà Phật và Thích-ca Mâu-ni Phật. Thời gian giáo hóa dài hay ngắn là do thiện căn, phúc đức của chúng sinh cảm ứng mà thành. Chúng sinh hoan hỉ tiếp nhận sự giáo hóa của Phật thì Phật trụ thế thời gian dài; khi chúng sinh không còn tiếp nhận giáo hóa nữa, Phật liền thị hiện nhập diệt.
